Đề xuất sinh cảnh “chẳng thể thay thế” của IUCN
Thành bại tại con người
SGTT.VN - Các nhà khoa học thuộc Liên minh quốc tế bảo tồn tự nhiên và tài nguyên tự nhiên (IUCN) vừa mới đề xuất danh sách những nơi “không thể thay thế” của trái đất, với hơn 2.100 sinh cảnh quyết định sự sống còn của động vật hoang dại. Trong đó, nhiều địa điểm đang là khu dự trữ sinh quyển, vườn nhà nước, khu bảo tàng của Việt Nam...
Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) ở khu bảo tồn tự nhiên Na Hang là một trong những linh trưởng đặc hữu của Việt Nam và là một trong số 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất toàn cầu.Ảnh: Lê Khắc Quyết |
Nơi “không thể thay thế”
Đề xuất được công bố trên tập san Science, bằng việc lập ra danh sách các khu bảo tàng cần quan tâm đặc biệt, giúp cơ quan hữu trách địa phương quản lý hiệu quả hơn động vật hoang dã trước nguy cơ tuyệt diệt. “Các khu bảo tồn chỉ có thể làm đúng vai trò của họ trong việc giảm tổn thất đa dạng sinh vật học nếu chúng được quản lý một cách hiệu quả”, ông Simon Stuart, chủ toạ IUCN nói.
Nghiên cứu nhắm vào 2.178 khu bảo tồn, trong đó có 78 khu đặc biệt chẳng thể thay thế, là sinh cảnh của 600 loài chim, lưỡng thê và động vật có vú. Một nửa trong số đó đang bị xếp ở mức báo động. Theo IUCN, việc xác nhận này sẽ đảm bảo hiệu quả công tác bảo vệ đa dạng sinh vật học độc đáo trong các khu vực này một khi có các tiêu chuẩn, đề nghị nghiêm nhặt hơn. Ngoài những khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia, khu bảo tàng của hơn 100 nước và vùng lãnh thổ thì theo thống kê trên, các nước thuộc Đông Nam Á như Campuchia, Lào, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Việt Nam xuất hiện nhiều “điểm nóng” trong bảng đề xuất. Đối với chúng ta, việc họ đưa vào danh sách khoảng 40 khu bảo tàng ở Việt Nam (cả nước có 146 khu bảo tàng và vườn quốc gia) là đáng nghĩ suy bởi trong chiến lược bảo tồn, cần có sự ưu tiên thay vì đầu tư dàn trải, đặc biệt là làm theo kiểu phong trào.
Thay đổi cách bảo tàng
Đây không phải lần trước nhất giới làm bảo tồn cũng như tổ chức sở quan “nóng ruột” cho thực trạng bảo tồn, liên quan tới Việt Nam. Những dự án, chương trình hợp tác giữa họ với cơ quan sở quan của Việt Nam, cho những giống loài động vật hoang dại quý hiếm cụ thể, đã được triển khai từ rất lâu. TS Hà Thăng Long, trung tâm Cứu hộ linh trưởng vườn nhà nước Cúc Phương, cho biết: “Những dự án nhỏ về bảo tàng của quốc gia rất ít, thậm chí không có. Còn lại đa số do các tổ chức phi chính phủ nước ngoài làm, trực tiếp đầu tư”. Nhưng tính hiệu quả lại là chuyện khác, như nhiều chuyên gia bảo tồn trong nước nhận định, đó là bức tranh tối.
Câu chuyện về sự tuyệt diệt loài tê ngưu Java ở Việt Nam là tỉ dụ. Các nhà khoa học tái khám phá loài tê giác Việt Nam vào cuối thập kỷ 1990, sau khi hai con bị bắn chết (một ở Bù Đăng và một ở ngay sông Đồng Nai). Tuy nhiên, quy hoạch cho khu bảo tồn tê ngưu Cát Lộc quá nhỏ (26.969ha). Khu vực mà tê giác thường sinh sống nằm ngay khu vực trồng lúa của di dân. Tê giác không còn nơi an toàn nên phải sống lay lắt trong những ngọn đồi bát úp đầy tre nứa và mây. Việc mở rộng vườn nhà nước Cát Tiên rộng 70.548ha nhằm gia tăng diện tích cho loài tê ngưu sống chỉ là trên danh nghĩa. Thực tại, tê ngưu ở Cát Lộc đã bị cô lập hoàn toàn bởi khu vực dân cư và đất canh tác nông nghiệp của con người. Cùng tình cảnh rưa rứa, loài bò tót thiên di từ rừng Nam Cát Tiên sang rừng Đồng Phú (Bình Phước) đã phải tranh chấp nơi ở với con người, cùng với hoạt động phá rừng trồng cao su, gầy dựng nông trường.
Hay mới nhất là voi vườn quốc gia Yok Đôn (Dăk Lăk) di chuyển sang địa bàn tỉnh Dăk Nông kiếm ăn, phá hoại hoa màu, gây đảo lộn cuộc sống dân làng… Việc di dân, khai thác thậm chí “hy sinh” rừng cho nông trường, thuỷ điện, xâm lấn nơi sống và kiếm ăn của động vật hoang dã dẫn đến những xung đột giữa thú hoang và người, gây nên những cái chết thảm thương cho cả hai phía.
TS Nguyễn Quảng Trường, viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, cho rằng bản tính đề xuất của IUCN là muốn phát triển hình thức bảo tồn nguyên vị (in situ), tức bảo vệ các loài và sinh cảnh của chúng ngay ở vùng phân bố: “Việc làm này đã được thực hành ở Việt Nam từ rất lâu phê chuẩn việc thành lập các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên... Mặc dầu vậy, do nhiều căn do, năng lực quản lý, tiềm lực tài chính nên hiệu quả không như mong đợi”. Cũng chính nên chi, hình thức bảo tồn chuyển vị (ex situ), tức đem các loài bị đe doạ để nhân nuôi phục hồi quần thể, sản xuất ở nơi khác (thí dụ các trại nuôi, vườn thú, trọng tâm cứu hộ) sau đó thả lại thiên nhiên, đang được phát triển song song.
Lý giải vì sao nhiều dự án bảo tàng các loài cụ thể ở Việt Nam thất bại trong khi nhiều nước làm thành công, TS Long nói: “Khi làm công tác bảo tồn, người ta xem xét loài đó có vai trò thế nào trong hệ sinh thái, còn mình lại quan tâm loài đó có giá trị gì đời sống của con người, như hỏi con hổ bao nhiêu tiền, chứ không hỏi con hổ có giá trị gì trong hệ sinh thái”. Chính vì quan niệm này mà người ta vẫn định lượng giá trị hổ bởi cao, tê ngưu bởi sừng, voi bởi ngà… như những món hàng thời thượng đắt đỏ.
Cũng như nhiều chuyên gia khác, TS Long cho rằng: “Với cách làm mới, hệ sinh thái nào có giá trị thì phải tụ hợp để ý và đầu tư bảo vệ. Chả hạn, nếu đầu tư chương trình bảo tàng hổ thì khó thành công, nhưng nếu đầu tư bảo vệ hệ sinh thái Bắc – Trung Trường Sơn cho hổ, thì tỷ lệ thành công cao hơn rất nhiều”. Việc IUCN nêu chính danh các địa điểm cần bảo tàng là để tạo một sự rõ ràng giúp các nhà quản lý, các chính trị gia và công chúng biết rõ hơn thay vì nói chung chung cần phải bảo vệ các khu bảo tồn trên thế giới (với diện tích 12% diện tích thiên nhiên). Đã có những mô hình hay, hiệu quả tốt được thưa. Tuy nhiên, không có mô hình lý tưởng cho mọi nhà nước bởi điều đó phụ thuộc mức độ quan tâm, nghĩa vụ của giới hữu trách, phụ thuộc những con người cụ thể, bởi như TS Long từng nhận định: “Nếu cán bộ của các ngành hữu trách vẫn vào nhà hàng đặc sản ăn thịt thú rừng và khen ngon thì bảo tàng thiên nhiên ở Việt Nam khó đạt được mục tiêu!”
Trọng Văn
Những nơi “không thể thay thế” được đề xuất tại Việt Nam: vườn quốc gia Ba Bể (Bắc Kạn); vườn quốc gia Cát Tiên; vườn nhà nước Tam Đảo; vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà; vườn quốc gia Kon Ka Kinh; vườn nhà nước Phong Nha – Kẻ Bàng; đèo Hải Vân; núi Bạch Mã; quần đảo Cát Bà; khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé; núi Ngọc Linh; vườn quốc gia Chư Yang Sin; rừng đặc dụng Na Hang; núi Phia Oắc (Cao Bằng); vườn quốc gia Pù Mát; rừng thông Đà Lạt; khu bảo tàng thiên nhiên Tà Kóu (Bình Thuận); khu bảo tồn tự nhiên Tây Côn Lĩnh; khu bảo tồn thiên nhiên Trùng Khánh (Cao Bằng); vườn nhà nước Vũ Quang (Hà Tĩnh); khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An. |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét